Học thuyết XYZ là gì? Ứng dụng học thuyết XYZ vào quản trị nhân sự

4.8/5 – (5 bình chọn)
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Học thuyết quản trị nhân lực của phương Đông được hình thành từ rất sớm như “Đức trị” của Khổng Tử hay “Pháp trị” của Hàn Tử Phi. Bên cạnh đó học thuyết kinh điển của phương Tây cũng được áp dụng, đặc biệt là trong lĩnh vực quản trị nhân sự. Dưới đây WEONE sẽ cung cấp thêm thông tin kiến thức cho bạn về học thuyết XYZ, cũng như nêu rõ cách ứng dụng các của 3 học thuyết này vào quản trị nhân sự. Cùng theo dõi nhé!

Học thuyết XYZ

Tổng quan về 3 học thuyết XYZ

Học thuyết X

Học thuyết X hình thành từ năm 1960 được Douglas Mc Gregor sáng lập. Học thuyết này đưa ra giả thuyết có thiên hướng tiêu cực của con người:

  • Con người từ khi được sinh ra đã có xu hướng không quan tâm đến nhu cầu của tổ chức, thay vào đó họ tự cho mình là trung tâm.
  • Bản tính lười biếng, không muốn làm nhiều việc.
  • Không dám chịu trách nhiệm, không có chí tiến thủ, chịu sự lãnh đạo từ người khác.
  • Không có sự đổi mới, không được lanh lợi, dễ bị lôi kéo, lừa đảo với những người có dã tâm.
Học thuyết X được coi là cách quản trị thiếu tình thương

Từ những nhược điểm trên, học thuyết X cung cấp những phương pháp lý luận truyền thống:

  • Quản lý nghiêm khắc bằng cách trừng phạt.
  • Quản lý ôn hòa dựa trên sự khen thưởng.
  • Quản lý nghiêm khắc và công bằng dựa trên sự trừng phạt và khen thưởng.

Ngoài ra, học thuyết X còn được khái quát theo 3 quan điểm:

  • Nhà quản trị chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu về kinh tế dựa trên các yếu tố: Vật tư, con người, tiền, thiết bị.
  • Đối với nhân viên, họ cần được chỉ huy, kiểm tra và điều chỉnh hành vi của họ để đáp ứng nhu cầu của tổ chức.
  • Sử dụng các biện pháp khen thưởng, thuyết phục, trừng phạt để tránh người lao động biểu hiện hoặc chống đối với tổ chức.

Về nội dung:

  • Lý thuyết có phần máy móc, mang thiên hướng tiêu cực về con người.
  • Theo học thuyết, các nhà quản trị họ chỉ có cái nhìn phiến diện về người lao động là họ có nhu cầu về tiền nhưng bản chất lại không thích làm việc. Con người thích bị kiểm soát, càng bị kiểm soát thì họ mới làm tốt công việc.
  • Khen thưởng nếu làm tốt công việc, trừng phạt khi phạm lỗi.

Nhìn chung, thuyết X theo thiên hướng tiêu cực về con người nhưng nó đưa ra phương pháp quản lý chặt chẽ. Tuy có những hạn chế như ở trên nhưng chúng ta không thể kết luận rằng học thuyết X sai hoàn toàn. Ở học thuyết này, có sự nhìn nhận con người hơi quá lạc quan nhưng cũng đưa ra được cách quản lý linh động phù hợp với một số doanh nghiệp lớn, nhiều lĩnh vực đòi hỏi sự sáng tạo của nhân viên. Nhờ những thiếu sót của học thuyết X đã làm tiền đề cho ra đời những lý thuyết quản trị tiến bộ hơn.

Học thuyết Y

Học thuyết này cũng được Douglas Mc Gregor sáng lập vào năm 1960. Là bản chỉnh sửa của học thuyết X với những giả thiết tích cực hơn về bản chất con người, cụ thể:

  • Lười biếng không phải bản tính bẩm sinh của con người nói chung.
  • Con người luôn có khả năng tiềm ẩn vấn đề ở đây là làm sao khơi gợi được tiềm năng đó.
  • Con người sẽ làm việc tốt hơn nếu bản thân có sự thỏa mãn.
  • Lao động trí óc, lao động chân tay cũng như nghỉ ngơi, giải trí điều là hiện tượng của con người.
  • Đe dọa và điều khiển không phải là biện pháp duy nhất thúc đẩy con người hoàn thành mục tiêu.

Nội dung:

  • Lý thuyết linh động và thiên hướng tích cực về con người và hành vi của con người.
  • Con người thường làm việc theo nhóm, họ thích làm chủ và tự định hướng.
  • Họ sẽ gắn liền với nhóm nếu họ được thỏa mãn về cá nhân.
  • Bản chất của con người là thích làm việc và không trốn tránh khi có thể.
  • Tài năng luôn tiềm ẩn, phải biết khơi dậy đó là vấn đề.
  • Con người muốn và có thể học gánh vác trách nhiệm.
  • Họ không thích bị kiểm soát, nếu bị kiểm soát sẽ không làm tốt công việc.
  • Không đánh giá cao về việc trừng phạt khi họ không làm việc.

Học thuyết này có phần tích cực và tiến bộ hơn học thuyết X ở chỗ chỉ đúng bản chất của con người. Tuy nhiên thuyết này cũng có những mặt hạn chế đó là việc tuân theo học thuyết Y có thể dẫn đến sự buông lỏng trong quản lý. Chính vì vậy, học thuyết Y chỉ có thể phát huy tốt trong tổ chức có trình độ phát triển cao và có sự sáng tạo như các tập đoàn kinh tế lớn như: Unilever, P&G,…

Học thuyết XYZ
Học thuyết Y là bản chỉnh sửa của học thuyết X với giả thiết tích cực hơn

Học thuyết Z

Học thuyết Z được đưa ra vào những năm 70 của thế kỷ trước do tiến sĩ W.Ouchi sáng lập, được xây dựng dựa trên cả lý luận và thực tiễn.

Nội dung:

  • Nhân viên đưa ra những lời đề nghị của họ sau đó cấp trên mới đưa quyết định.
  • Chế độ làm việc lâu dài để nhân viên an tâm và tăng thêm tinh thần trách nhiệm trong công việc, khuyến khích nhân viên đưa ra những phương án đề nghị của mình.
  • Đo đếm, đánh giá chi li, rõ ràng, mềm dẻo, giữ thể diện cho người lao động.
  • Quan tâm đến mọi vấn đề của người lao động, kể cả gia đình của họ.
  • Nên chú ý khâu đào tạo và phát triển năng lực của nhân viên.
  • Đánh giá, đề bạc nhân viên phải toàn diện, thận trọng.
  • Làm cho công việc hấp dẫn thu hút công nhân vào làm việc.

Thuyết này có nhược điểm tạo ra sức ỳ lớn trong nhân viên nhưng lại đưa ra các phương pháp có hiệu quả dẫn đến sự thành công cho công ty. Và nó trở thành học thuyết quản trị nhân sự kinh điển được nhiều doanh nghiệp áp dụng.

Vậy ứng dụng 3 học thuyết XYZ trong công ty như thế nào?

Ứng dụng học thuyết XYZ vào quản lý nhân sự

Học thuyết X

Khi áp dụng học thuyết này vào quản lý nhân sự vẫn đúng trong nhiều trường hợp nhưng có phần cứng nhắc và có những hạn chế bởi:

  • Nhu cầu với môi trường làm việc chưa được chú trọng.
  • Người lao động tuy thích hưởng thụ nhưng khi có mục tiêu họ sẽ cống hiến hết mình.
  • Sự đổi mới sẽ có tác dụng nếu họ nhìn ra vấn đề.
  • Quản lý phải tạo ra cho người lao động nhìn nhận những lợi ích họ sẽ có khi họ tích cực và chăm chỉ.

Học thuyết Y

Nếu áp dụng quản lý nhân sự cho học thuyết này sẽ:

  • Khuyến khích tập thể nhân viên tự điều khiển thực hiện mục tiêu mà họ đang làm và tự đánh giá thành tích của mình.
  • Có các biện pháp quản trị áp dụng đối với người lao động phải có tác dụng đem lại thu hoạch nội tại.
  • Người quản trị và nhân viên phải có ảnh hưởng lẫn nhau.
  • Thực hiện nguyên tắc thống nhất mục tiêu giữa tổ chức và cá nhân.
  • Mặt khác, cũng giống như thuyết X, thuyết Y không tuyệt đối, nếu 2 thuyết này được kết hợp sẽ hoàn hảo hơn.

Học thuyết Z

  • Được nhiều công ty Nhật đưa vào ứng dụng thực tế và đưa nước Nhật trở thành cường quốc thế giới, vượt qua các nước Âu Mỹ.
  • Các công ty Âu Mỹ sau đó đã nhìn nhận lại vấn đề, học thuyết này tìm cách ứng dụng để cạnh tranh lại với công ty Nhật.
  • Bên cạnh đó, cũng có những điểm yếu căn bản như tạo ra sức ỳ lớn trong các công ty ở Nhật.

Từ học thuyết X – học thuyết Z, đó là một quá trình tự hoàn chỉnh về tri thức trong khoa học mà cụ thể là quản trị nhân lực. Nó thể hiện ước muốn của con người là đạt tới trình độ quản lý nhân sự ưu việt mong muốn đem lại những lợi ích thiết thực cho người lao động, doanh nghiệp và cả xã hội.

Học thuyết XYZ
Áp dụng học thuyết XYZ trong quản trị nhân lực

Trên đây là sơ lược về 3 học thuyết XYZ và cũng giúp ta hiểu hơn về tri thức quản trị nhân sự. Mỗi học thuyết đều có những cái hay, cái thiếu sót. Tuy nhiên, quản trị nhân lực là một nghệ thuật, nhà quản trị cần biết cách áp dụng hoặc kết hợp các học thuyết một cách sáng tạo linh hoạt. Hy vọng những chia sẻ của chúng tôi về 3 học thuyết trên sẽ giúp các bạn có thêm nhiều thông tin hữu ích. Cám ơn các bạn đã theo dõi!

Bạn có biết, tại Việt Nam có tới hơn 80% lãnh đạo doanh nghiệp muốn chuyển đổi số và 65% doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư mạnh vào chuyển đổi số, tuy nhiên lại có đến 53,7% doanh nghiệp gặp vấn đề về các giải pháp làm việc nội bộ.

Để khắc phục tình trạng đó hãy trải nghiệm miễn phí Hệ thống tự động hóa doanh nghiệp WEONE! Thử nghiệm hoặc đăng ký hỗ trợ tư vấn chuyên sâu 1-1 để giải quyết những vấn đề về quản trị doanh nghiệp TẠI ĐÂY!

Bài viết mới nhất

Đăng ký nhận thông tin từ WEONE

Đăng ký demo

Tư vấn trực tiếp

0904 805 255